1.Bệnh sởi lây truyền như thế
nào?
Virus
sởi rất dễ lây qua ho và hắt hơi, tiếp xúc gần hoặc tiếp xúc trực tiếp với người
bị nhiễm hoặc dịch tiết mũi họng. Virus vẫn hoạt động và dễ lây trong không khí
hoặc trên các bề mặt bị nhiễm trong gần 2h. Nó có thể lây truyền từ người mắc bệnh
trong vòng 4 ngày trước khi bắt đầu phát ban cho tới 4 ngày sau khi phát ban.
Thông
thường bệnh sởi diễn ra 4 thời kì:
Thời
kì ủ/nung bệnh: 8 - 11 ngày: Thường không có biểu hiện lâm sàng.
Thời
kì khởi phát (giai đoạn viêm long): Kéo dài 3 - 4 ngày với sốt nhẹ hoặc vừa, rồi
sốt cao. Sau viêm kết mạc mắt đỏ có gỉ kèm nhèm & sưng nề mi mắt, viêm xuất
tiết mũi, họng: Chảy nước mắt nước mũi, ho. Còn có thể có hạch ngoại biên to.
Thời
kì toàn phát (giai đoạn mọc ban): Kéo dài 4 - 6 ngày. Ban mọc trong 3 ngày: Tuần
tự mọc ở sau tai, lan ra mặt rồi lan xuống đến cổ, ngực, lưng,tay, ngày 3 lan đến
chân. Dạng ban là ban hồng, dát sẩn, ban nhỏ hơi nổi gờ trên mặt da, xen kẽ các
ban có khoảng da lành. Ban mọc rải rác hay lan rộng dính liền với nhau thành từng
đám tròn 3 - 6 mm.
Thời
kì lui bệnh (giai đoạn ban bay): Ban bay theo thứ tự như nó đã mọc. Sau khi ban
bay có để lại vết thâm trên da. Thông thường khi ban bay thì hết sốt, trừ khi
có biến chứng thì trẻ vẫn sốt sau khi ban bay.
2.Các biến chứng của bệnh sởi ở
trẻ em
Nếu
không được phát hiện và điều trị kịp thời, bệnh sởi ở trẻ em có thể để lại các
biến chứng nguy hiểm như:
Viêm
tai giữa - đây là biến chứng luôn phải nghĩ tới trước tiên.
Viêm
loét giác mạc.
Viêm
não cấp tính chiếm (khoảng 0,1% số ca mắc sởi): Trẻ nhỏ sau khi phát ban (1 -
15 ngày) xuất hiện các triệu chứng lơ mơ, hôn mê, co giật, đau đầu, nôn, cứng
gáy.
Tiêu
chảy.
Viêm
phổi do bội nhiễm các vi khuẩn tụ cầu Influenzae tuýp B, Hemophilus.
Thể
lao tiềm ẩn tái bùng phát do cơ thể bị suy giảm hệ miễn dịch.
Phân
biệt sởi khác sốt phát ban như thế nào?
Phân
biệt các dấu hiệu của bệnh sốt phát ban và bệnh sởi như sau:
Bệnh
Rubella (hay bệnh sởi Đức): Thường sốt nhẹ, viêm long đường hô hấp nhẹ, ban dát
sẩn dạng sởi nhưng thường ban nhỏ hơn, mọc thưa hơn và mọc sớm ngay trong 1-2
ngày đầu, ban mọc cùng lúc, khi bay không để lại vết thâm, hay có hạch sau tai,
chẩm to, đau.
Bệnh
do virut có phát ban khác (Vi rút Adeno, ECHO, Coxsackie,...): Ban dát sần dạng
sởi thường mọc toàn thân không theo thứ tự.
Ban
dị ứng: Ban sẩn cục (ban mề đay) toàn thân không theo thứ tự, thường ngứa, có
nguyên nhân dùng thuốc, thời tiết, thức ăn,...
3.Hướng dẫn chăm sóc và theo
dõi trẻ bị sởi tại nhà
Bước
đầu, nên đưa trẻ đến khám tại cơ sở y tế gần nhất, không đến chỗ tập trung quá
đông bệnh nhân để tránh lây bệnh khác. Nếu trẻ bị sởi thể thông thường và đủ điều
kiện chăm sóc và cách ly, thì nên chăm sóc tại nhà sau khi có ý kiến đầy đủ về
cách chăm sóc cháu tại nhà, theo đúng hướng dẫn của các bác sĩ. Bao gồm:
Cách
ly trẻ bệnh với trẻ lành.
Cho
trẻ uống thuốc hạ sốt khi sốt ≥ 38.5°C theo chỉ định của bác sĩ.
Người
chăm sóc cần đeo khẩu trang, rửa tay sạch trước và sau mỗi lần tiếp xúc với trẻ
bị bệnh.
Giữ
vệ sinh da, mắt, mũi họng: Thay quần áo, vệ sinh thân thể như tắm hàng ngày,
tránh để lạnh,nhỏ mắt , nhỏ mũi bằng nước muối 0,9% ngày 3 lần.
Vệ
sinh môi trường xung quanh, giữ gìn phòng thông thoáng sạch sẽ.
Trẻ
còn bú mẹ vẫn tiếp tục cho bú và kết hợp chế độ ăn bổ sung hợp lý (nếu trẻ trên
6 tháng), trẻ lớn nhớ cho uống đủ nước mỗi ngày.
Tránh
gió lùa, ăn thức ăn chứa protein dị ứng, các loại gia vị kích thích, không uống
các loại nước có ga, đồ uống kích thích.
Không
dùng kháng sinh nếu không có các biến chứng.
Hiện
chưa có phương pháp điều trị kháng virus đặc hiệu cho virus sởi. Có thể tránh
được biến chứng nặng của bệnh sởi ở trẻ em bằng điều trị hỗ trợ: Đảm bảo dinh
dưỡng tốt, uống đủ nước và bù nước và điện giải bằng các dung dịch đường uống
thay thế cho dịch và các yếu tố cần thiết đã bị mất qua tiêu chảy và nôn. Cho
trẻ ăn thức ăn mềm dễ tiêu, ăn đủ chất, nấu chín kỹ và khi ăn nên chia thành
nhiều bữa theo khẩu vị của trẻ để trẻ dễ ăn. Không dùng các loại gia vị gây khó
tiêu.
Trong
trường hợp trẻ bị biến chứng của bệnh sởi như tiêu chảy hoặc viêm phổi, cần bổ
sung kẽm bằng đường uống. Trẻ lớn đảm bảo ăn đầy đủ chất dinh dưỡng, uống nhiều
nước, nước ép hoa quả chứa nhiều Vitamin A.